Thiết kế tờ rơi cũng giống như việc bạn biết 1 bài văn, đi từ khái quát tới chi tiết, và muốn viết đúng với đề tài thì bạn không thể không đọc yêu cầu.
Thiết kế tờ rơi đòi hỏi sự sáng tạo, thẩm mỹ rất cao. Do đó việc thiết kế chúng rất công phu và mỗi nhà thiết kế lại có cách truyền tải nội dung và hình ảnh cũng như ý tưởng khác nhau vào đó để đạt được hiệu quả tốt nhất cho tờ tơi, tờ gấp.
Những quy tắc vàng về kết cặp font trong thiết kế Chọn lựa font chữ và kết cặp các font thế nào cho hợp lý (typography trong nghĩa hẹp của nó) có lẽ là một trong những vấn đề làm đau đầu nhiều dân đồ họa nhất bởi đó là một trong những yếu tố quyết định một thiết kế đẹp hay xấu. Để làm tốt việc này, nhà thiết kế cần có óc thẩm mỹ, kinh nghiệm, bản năng và nhiều nhiều thứ khác, phần lớn trong số đó thuộc về phạm trù năng khiếu. Tuy nhiên, một trong những thứ liên quan lại có thể dạy được, đó là các quy tắc và kỹ thuật kết cặp font được nhiều chuyên gia lấy làm kim chỉ nam. Với các quy tắc này, không chỉ anh em chuyên nghiệp, mà cả những người nghiệp dư tập tành chơi Photoshop hay thậm chí anh em văn phòng trình bày văn bản hoàn toàn có thể ứng dụng và làm cho tác phẩm của mình đẹp hơn.
Ngành “Thiết kế Đồ hoạ” đang rất thịnh hành ở Việt Nam, nhưng do ảnh hưởng quá nhanh từ các trào lưu mà hiện nay có nhiều khái niệm lẫn lộn nhau, thậm chí gây hiểu lầm cho chính người làm nghề cũng như nhà tuyển dụng. Với những công ty Đa quốc gia, việc phân định này đã rõ. Nhưng với những nhân sự và doanh nghiệp xuất thân từ trong nước vẫn chưa rõ những khái niệm xung quanh nó. Hiểu được điều này giúp người làm nghề định hướng rõ hơn về tương lai và các doanh nghiệp có thể sắp xếp các nhân sự đúng vị trí, giúp nhân sự ổn định và phát huy.
Bắt đầu từ thập niên 60 với những bìa đĩa, poster cho các nhóm nhạc Rock, tiêu biểu là nhóm nhạc The Byrds. Đến khi xuất hiện hệ máy tính để bàn Apple Macintoch G3 cùng các phần mềm đồ hoạ tiên tiến như QuarkXPress, InDesign,.., ngành này mới thực sự bùng nổ kèm theo thuật ngữ “Graphic Design” (Thiết kế đồ hoạ).
Poster của nhóm nhạc The Byrds trong những năm 1960 và dòng máy tính Macintosh G3 đã đặt nền móng cho ngành "Thiết kế đồ hoạ" ngày nay
Liệt kê các phòng ban và cấp bậc:
Nhiều tên, chức danh dưới đây là nghĩa gốc tiếng Anh, đôi khi dịch ra nghĩa tiếng Việt chưa được chính xác.
Phân chia phòng ban:
Nhân sự thiết kế đồ hoạ rất đa dạng, chuyên biệt tuỳ theo mô hình hoạt động kinh doanh. Dưới đây là những bộ phận thường có trong một công ty:
Art Department (Phòng Mỹ thuật)
Art and Design Department (Phòng Mỹ thuật và Thiết kế)
Art Services Department (Phòng Dịch vụ Mỹ thuật)
Design Department (Phòng Thiết Kế)
Design Services Department (Phòng Dịch vụ Thiết kế)
Creative Services Department (Phòng Dịch vụ Sáng tạo)
Creative Group (Nhóm Sáng Tạo)
Graphic Group (Nhóm Đồ Hoạ)
Art Department (Phòng Mỹ thuật)
Design Department (Phòng Thiết Kế)
Không hẳn một công ty phải có hết các phòng ban này, nhất là những doanh nghiệp nhỏ thường gộp chung, kiêm nhiệm các bộ phận và những doanh nghiệp lớn sẽ có nhiều phòng ban hơn. Số lượng, quy mô các bộ phận thường thấy ở 3 mô hình hoạt động như: Design firms, Studios, Office Design. Hoặc những mô hình tự phát như: Multimedia design department sẽ tách ra bộ phận Print design department s. Hoặc Editorial departments tách ra Promotion department.
Các chức danh:
Các chức danh thể hiện chuyên môn sâu và môi trường làm việc của mỗi nhân sự. Dưới đây sẽ sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp để thể hiện cấp bậc của chức danh trong một công ty. Đối với những mô hình kinh doanh nhỏ, đôi khi một chức danh kiêm luôn là nhà sáng lập công ty.
Ở các nước tiên tiến, có những thang điểm và kết quả thu nhập từ các chức danh này. 3 điểm quan trọng để thể hiện đó là: Chuyên môn hoá, tuổi nghề (bằng cấp) và thu nhập. Ví dụ khoảng cách thu nhập giữa Junior Design và một Art Director cách nhau khoảng 4 lần,…
1. Cấp quản lý:
Người đứng đầu trong các phòng ban hay nhóm làm việc. Kinh nghiệm nghề nghiệp thường trên 10 – 12 năm và uy tín cao hơn nếu đã đạt được các giải thưởng thiết kế, sáng tạo thường niên.
Creative Director (Giám đốc sáng tạo)
Design Director (Giám đốc Thiết kế)
Corporate Art Director (Giám đốc Mỹ thuật Doanh nghiệp)
Creative Services Director (Giám đốc Dịch vụ Sáng tạo)
Design Director (Giám đốc Thiết kế)
Design Director CHANER - Karl Lagerfeld
2. Cấp thiết kế, sáng tạo:
Để đạt được chức danh này, người làm việc có từ 6 – 8 năm kinh nghiệm và bằng cấp từ cử nhân (đại học) trở lên hoặc tốt nghiệp tại các môi trường đạo tạo chất lượng tương đương.
Senior Designer (Nhà Thiết kế cao cấp hay Trưởng phòng)
Designer (Nhà Thiết kế)
Senior Art Designer (Trưởng phòng mỹ thuật hay Hoạ sĩ cao cấp)
Art Director
Graphics Editor
3. Cấp hỗ trợ:
Là nguồn nhân lực có kinh nghiệm từ 3 – 5 năm. Trình độ từ các trường Cao đẳng, hoặc từ các Trung tâm Đào tạo chuyên môn.
Junior Designer (Nhà Thiết kế trẻ hay Nhân sự tầm trung)
Assistant Designer (Trợ lý thiết kế)
Deputy Art Director (Phó giám đốc Mỹ thuật)
Associate Art Director (Phụ tá (phó) Giám đốc Mỹ thuật)
Assistant Art Director (Trợ lý Giám đốc Mỹ thuật)
Production Artist (Hoạ sĩ thiết kế)
Art Associate (Phụ tá Mỹ thuật)
4. Cấp thấp nhất (nhân sự thử việc):
Đây là nguồn nhân lực thường không ổn định, đa số là thử việc hoặc sinh viên làm thêm.
Assistant Designer (Phụ tá Thiết kế)
Junior Designer (Thiết kế cấp thấp)
Intern (Thực tập viên)
5. Freelance – làm việc tự do:
Freelance là nhân sự không phụ thuộc bất kỳ sự quản lý nào của hệ thống nhân sự và cũng có thể nhận việc ở bất kỳ bộ phận nào. Công việc hình thành thường thông qua một sự thương lương tuỳ theo cấp độ công việc.
Phân loại chuyên môn:
Bản thân từ “Thiết kế đồ hoạ” bao gồm rất nhiều nghĩa, nhiều mảng. Mỗi mảng đều cần một sự nghiên cứu chuyên sâu nhất định cũng như quá trình học tập, thực hành trong một thời gian dài. Nếu ai đó giới thiệu là một “Graphic Designer” bạn nên hỏi thêm chuyên môn là gì để xác định chính xác hơn nghề nghiệp mà người đó đang làm. Trong ngành “Thiết kế đồ hoạ” có những mảng chuyên môn sau:
1. Magazine Design – Thiết kế Báo, Tạp chí
Thiết kế dàn trang các tạp chí, báo giấy. Người làm nghề này cần thông tạo kiến thức về thuật ngữ báo chí, dàn trang chữ, tiêu đề, hệ lưới, bố cục và xử lý ảnh. Chủ yếu xài các phầm mềm như QuarkXPress, InDesign.
2. Advertising - Thiết kế Quảng cáo
Tạo ra những mẫu thiết kế mang thông điệp truyền thông, quảng bá. Những sản phẩm thường thấy như tời rơi, poster, trang quảng cáo báo (Print Ad), bảng quảng cáo,… Phần mềm chuyên dụng nhất là Adobe Illustrator và lấy hình ảnh được xử lý từ Photoshop. *Link kết quả tìm hình ảnh trên Google
3. Book Design – Thiết kế Sách
Thiết kế sách ở đây không chỉ là bìa sách mà bao gồm các loại sách tham khảo chuyên môn. Những loại sách tham khảo chuyên môn luôn có những sáng tạo rất khác biệt, bắt mắt cho người xem. Đặc biệt là những loại sách liên quan đến ngành thiết kế. Người làm ngành này có kiến thức về vật liệu giấy và kỹ thuật in ấn mỹ thuật.
4. Corporate Identity – Nhận diện Thương hiệu
Hệ thống nhận diện rất quan trọng trong mỗi doanh nghiệp. Nó giúp thống nhất hình ảnh đồ hoạ đến khách hàng, tạo sức mạnh về hình ảnh doanh nghiệp. Nhất là việc tránh những nhầm lẫn về màu sắc, tỉ lệ của thương hiệu (Logo) trên các phương tiện truyền thông.
5. Film Titles – Tiêu đề Phim
Một tiêu đề Phim tốt và đúng chủ đề giúp nâng giá trị bộ phim lên rất nhiều lần. Những thiết kế này sẽ được sử dụng lẫn trong phim đến ngoài phim như poster giới thiệu. Người làm nghề này cần 3 yếu tố chính là hiểu về chủ đề tư tưởng của bộ phim, kỹ thuật tạo hình kỹ xảo và hiệu ứng chuyển động. Phần mềm đồ hoạ thường dùng là: Adobe Photoshop, After Effect và một số phần mềm tạo hình 3D.
6. TV Graphic – Đồ hoạ Truyền hình
Mỗi chương trình, mỗi đài phát sóng đều có những đoạn giới thiệu chương trình riêng, được đầu tư rất công phu và mang đặc trưng riêng. Cái khó nhất của mảng này là tạo những hình ảnh động mang tính biểu tượng cao. Kỹ năng ước lệ và trí tưởng tượng bay bổng là thế mạnh trong mảng này. Phần mềm đồ hoạ thường dùng ngoài những thông dụng Adobe Photoshop, After Effect cần biết xử dụng các phần mềm cấp cao của hãng Autodesk như Maya, Motion Builder, …
7. Interactive Design – Thiết kế Tương tác
Liên quan nhiều đến lĩnh vực công nghệ thông tin, nhất là phần mềm cho người dùng cuối. Với trào lưu điện thoại thông minh, máy tính bảng đang phát triển. Ngành thiết kế này rất hứa hẹn cho các nhà thiết kế. Để tạo ra những sản phẩm tốt, người thiết kế cần nắm rõ về hành vi sử dụng, phương phát tương tác với giao diện để đem lại hiệu quả tốt nhất cho ứng dung.
8. Branding – Phát triển Thương hiệu
Về nghĩa hẹp và mảng chuyên về thiết kế Logo, biểu tượng. Về nghĩa rộng, mảng này liên quan đến nhiều mảng khác như nhận diện thương hiệu, bao bì,… Kiến thức thiên về phát triển thương hiệu và sản phẩm.
9. Record Design – Thiết kế Ngành thu âm
Mỗi Album ca nhạc khi phát hành, mẫu mã thiết kế bìa, hộp bên ngoài có ảnh hưởng mạnh đến quyết định lựa chọn của khách hàng. Do đó việc đầu tư nghiêm túc cho sản phẩm này là yếu tố quan trong đối với ca sĩ và nhà phát hành.
10. Environmental Design – Thiết kế Môi trường
Thiết kế Môi trường thuộc về ngành Kiến trúc, Cảnh quan. Ngành thiết kế đồ hoạ có nhiệm vụ tô điểm cho môi trường này. Đặc biệt là hệ thống bảng hiệu, bảng chỉ dẫn đường đi. Tại các nước tiên tiến, mỗi toà nhà đều có một thiết kế đồ hoạ môi trường đặc trưng riêng rất đẹp.
11. Web Design – Thiết kế Web
Giao diện trang web như một “mặt tiền” của doanh nghiệp. Một giao diện web có thiết kế đẹp, chuyên nghiệp sẽ tạo lòng tin mạnh mẽ hơn đối với khách hàng, người xem. Nếu người thiết kế có một ít kiến thức về mảng thiết kế tương tác sẽ phát triển hơn.
12. Design Education – Thiết kế cho Giáo dục
Trong ngành Giáo dục, Đào tạo. Nếu chỉ truyền đạt kiến thức bằng ngôn từ, chữ viết chi chít sẽ gây nhàm chán cho người tiếp thu. Do đó những nội dung cần được đồ hoạ hoá để truyền tải thông điệp một cách xúc tích và nhớ lâu hơn.
13. Type Design – Thiết kế Chữ viết
Ngành thiết kế cho con chữ phát triển trước khi ngành Thiết kế đồ hoạ ra đời (typography). Nhưng nhờ máy tính và in ấn mà mảng này đạt đến kỹ thuật thể hiện mang cảm xúc đa dạng hơn. Người giỏi mảng này sẽ có năng lực thể hiện mỹ thuật tốt hơn hẳn các đồng nghiệp khác nhờ tính tĩ mĩ và sự nhất quán. Steve Jobs, nhà sáng lập, CEO lừng danh của Apple, nhờ học qua lớp học này mà “giác ngộ” được cách thể hiện thiết kế vượt bậc trong các sản phẩm của hãng.
14. Motion Graphics – Đồ hoạ Hình động
Một lĩnh vực rất dễ khiến các nhà thiết kế chìm đắm trong nó. Kết quả thị giác của thiết kế có ma thuật khiến ai tạo ra nó cũng tự hào về sản phẩm của mình. Kiến thức về mảng này rộng hơn cả “Thiết kế tiêu đề phim” và “Đồ hoạ Truyền hình”. Nền tảng chính để thành công là kiến thức sử dụng, kết hợp nhiều phần mềm đồ hoạ cao cấp và các bộ lọc hãng thứ 3.
16. Information Graphic – Đồ hoạ Thông tin
Mảng này tương đối khác xa lạ với các nhà thiết kế tại Việt Nam. Nhưng ở các nước phát triển, đó là một ngành đòi hỏi lượng chất xám cao. Nhiệm vụ chính là biến những con số thống kê khô khan trở thành những tác phẩm mỹ thuật xúc tích. Mảng này mang một phần kiến thức của mảng “Thiết kế cho Giáo dục” và “Đồ hoạ Hình động” cùng kinh nghiệm chuyên sâu về sự ước lệ thông tin.
17. Package Design – Thiết kế Bao bì
Mảng thiết kế này không xa lạ với bất kỳ ai quan tâm đến các sản phẩm của ngành “Thiết kế đồ hoạ”. Từ “Thiết kế Bao bì” ở đây chỉ dừng lại ở hình ảnh đồ hoạ, không liên quan đến ngành thiết kế tạo dáng sản phẩm. Tác phẩm cuối cùng là sự kết hợp giữa kiến thức thị giác và hình ảnh thương hiệu. Phần mềm chủ yếu là Adobe
Quyết đinh về bao bì khi thiết kế maketing sản phẩm mới
Nhiều sản phẩm vật chất khi đưa ra thị trường cần được bao gói cẩn thận và gắn nhãn. bao bì có thể đóng vai trò thứ yếu (các mặt hàng kim khí rẻ tiền) hay chủ yếu (mỹ phẩm). Nhiều người làm Marketing gọi bao bì là biến cơ bản thứ năm, ngang hàng với giá cả, sản phẩm, địa điểm, và khuyến mãi. Tuy nhiên nhiều người làm Marketing vẫn xem bao bì là một yếu tố của chiến lược tiêu thụ sản phẩm.
Ta định nghĩa việc bao gói là những hoạt động thiết kế và sản xuất hộp đựng hay giấy gói cho sản phẩm. Hộp đựng hay giấy gói gọi làbao bì. Bao bì có thể gồm ba lớp vật liệu. Gần đây bao bì đã trở thành công cụ Marketing đắc lực. Bao bì được thiết kế tốt có thể tạo ra giá trị thuận tiện cho người tiêu dùng và giá trị khuyến mãi cho người sản xuất.
Có nhiều yếu tố khác nhau đã góp phần mở rộng việc sử dụng bao bì làm công cụ Marketing.
- Tự phục vụ: Ngày càng có nhiều sản phẩm được bán theo phương pháp tự chọn ở các siêu thị và ở cửa hàng hạ giá. Bao bì phải thực hiện nhiều nhiệm vụ của người bán hàng, nó phải thu hút sự chú ý đến hàng hoá, mô tả tính chất của nó, tạo cho người tiêu dùng niềm tin vào hàng hoá và gây ấn tượng tốt đẹp nói chung.
- Mức sung túc của người tiêu dùng: Mức sung túc ngày càng tăng của người tiêu dùng có nghĩa là họ sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho sự tiện lợi, hình thức bên ngoài, độ tin cậy và vẻ lịch sự của bao bì hoàn hảo hơn.
+ Hình ảnh của công ty và nhãn hiệu: Các công ty ý thức được khả năng của bao bì được thiết kế đẹp góp phần làm người tiêu dùng nhận ra ngay công ty hay nhãn hiệu.
+ Cơ hội đổi mới: Việc đổi mới bao bì có thể đem lại những ích lợi to lớn cho người tiêu dùng và lợi nhuận cho người sản xuất
Việc thiết kế bao bì có hiệu qảu cho một sản phẩm mới đòi hỏi phải thông qua một số quyết định. Nhiệm vụ trước tiên là phải xây dựng khái niệm bao bì. Khái niệm bao bì sẽ xác định bao nhiêu bao bì về căn bản phải như thế nào hay có tác dụng cho sản phẩm cụ thể đó như thế nào. Những chức năng chủ yếu của bao bì có tạo ra sự bảo vệ tốt hơn cho sản phẩm không? Có mở ra một phương pháp quảng bá sản phẩm mới không? Có cần cung cấp những thông tin nhất định về sản phẩm, về công ty hay một điều gì khác không?
Cần phải đưa ra những quyết định về các yếu tố phụ của bao bì: kích thước hình dáng, vật liệu, màu sắc, nội dung trình bày và dấu hiệu của nhãn hiệu. Ngoài ra phải có các bộ phận chống làm giả để đảm bảo an toàn cho sản phẩm. Các yếu tố khác nhau của bao bì phải hài hoà với nhau, và phải hài hoà với những quyết định về giá cả, quảng cáo và những yếu tố Marketing khác.
Sau khi thiết kế xong bao bì cần phải thử nghiệm nó. Thử nghiệm kỹ thuật phải đảm bảo chắc chắn là bao bì chịu được những điều kiện bình thường, thử nghiệm hình thức phải đảm bảo chắc chắn chữ viết dễ đọc và màu sắc hài hoà, thử nghiệm kinh doanh phải đảm bảo là các nhà kinh doanh đều thấy bao bì hấp dẫn và dễ bảo quản, thử nghiệm với người tiêu dùng để đảm bảo người tiêu dùng ưng ý. Do vậy việc nghiên cứu một bao bì có hiệu quả thường mất lượng chi phí đáng kể và một khoảng thời gian từ vài tháng đến một năm vì bao bì có chức năng vô cùng quan trọng như thu hút và làm hài lòng khách hàng. Đồng thời các công ty còn phải chú ý đến những mối quan tâm ngày càng tăng về môi trường, an toàn đối với bao bì và cần có những quyết định đảm bảo được lợi ích xã hội cũng như những mục tiêu trước mắt cảu người tiêu dùng và công ty.
Người bán phải gắn nhãn hiệu cho sản phẩm của mình. Nhãn hiệu có thể là một miếng bìa đơn giản được đính vào sản phẩm hay một hình vẽ với chữ được thiết kế công phu và in liền trên bao bì. Nhãn hiệu có thể chỉ ghi tên nhãn hay nhiều thông tin về sản phẩm. Cho dù người bán thích một kiển nhãn hiệu đơn giản đi nữa, luật pháp vẫn yêu cầu phải bổ sung thông tin trên đó.
Nhãn hiệu thực hiện một số chức năng. Nhãn hiệu đảm bảo nhận biết được sản phẩm hay hàng hoá. Nhãn hiệu có thể chỉ rõ phẩm cấp của sản phẩm, nhãn hiệu có thể mô tả sản phẩm : người sản xuất, nơi sản xuất, ngày sản xuất, nội dung trong bao bì, cách sử dụng và quy cách an toàn khi sử dụng. Cuối cùng, nhãn hiệu có thể tuyên truyền sản phẩm bằng những hình vẽ hấp dẫn. Một số tác giả đã phân biệt nhãn hiệu thành các loại nhãn hiệu nhận biết, nhãn hiệu phẩm cấp, nhãn hiệu mô tả và nhãn hiệu khuyến mãi.
Nhãn hiệu sau một thời gian sử dụng sẽ trở nên lỗi thời và cần đổi mới có thể tạo nên một hình ảnh hấp dẫn khách hàng hơn trước sự cạnh tranh của các công ty khác, đòi hỏi người làm Marketing phải nhạy cảm và sáng tạo.
Thiết kế và marketing sản phẩm mới, chu kỳ sống của sản phẩm
Các tổ chức và doanh nghiệp ngày càng ý thức được sự cần thiết phải nghiên cứu hàng hoá và dịch vụ cũng như những ích lợi gắn liền với nó. Thời hạn sống của sản phẩm hiện có hôn nay đang thu ngắn lại và sẽ đến lúc phải thay thế chúng.
Những sản phẩm mới có thể thất bại. Mức rủi ro, liên quan đến việc đổi mới rất lớn nhưng ích lợi vật chất gắn liền với nó cũng rất lớn. Sự bảo đảm thành công cho hoạt động đổi mới là việc xây dựng một cơ cấu tổ chức lành mạnh để nghiên cứu những ý tưởng về hàng hoá mới, tiến hành nghiên cứu nghiêm túc và thông qua những quyết định có căn cứ cho từng giai đoạn sáng tạo ra sản phẩm mới. Quá trình tạo ra sản phẩm mới bao gồm tám giai đoạn: Hình thành ý tưởng, lựa chọn ý tưởng, soạn thảo dự án và thẩm định nó, thẩm định chiến luợc marketing, phân tích các khả năng sản xuất và tiêu thụ, thiết kế hàng hoá, thử nghiệm trong điều kiện thị trường và triển khai sản xuất đại trà. Mục đích của từng giai đoạn là thông qua quyết định là nên hay không nên tiếp tục nghiên cứu các ý tưởng. Công ty cố gắng giảm tới mức tổi thiểu những cơ hội nghiên cứu những ý tưởng yếu kém, sàng lọc ra những ý tưởng hay.
Mỗi sản phẩm hàng hoá đưa vào sản xuất đại trà đều có một chu kỳ sống riêng của nó, được đánh dấu bằng một loạt những vấn đề không ngừng phát sinh và những khả năng mới. Lịch sử thương mại sản phẩm của hàng hoá điển hình có thể biểu diễn dưới dạng đồ thị trên đó phân rõ bốn giai đoạn. Giai đoạn tung ra thị trường đặc trưng bằng sự tăng chậm mức tiêu thụ và lợi nhuận tối thiểu cho đến khi hàng hoá khai thông các kênh phân phối. Nếu thành công thì hàng hoá bước vào giai đoạn phát triển mà nét đặc trưng là tăng nhanh mức tiêu thụ và tăng lợi nhuận. Trong giai đoạn này công ty cố gắng cải tiến hàng hoá, xâm nhập vào những phần thị trường mới và các kênh phân phối mới, cũng như giảm giá chút ít. Sau đó là giai đoạn chín muồi, khi mức tiêu thụ tăng chậm lại còn lợi nhuận thì ổn định. Để đẩy mạnh tiêu thụ công ty tìm kiếm những phương pháp đổi mới bao gồm cải biến thị trường, cải biến hàng hoá, cải biến hệ thống marketing- mix. Cuối cùng hàng hoá bước vào giai đoạn suy thoái, khi mức tiêu thụ và lợi nhuận giảm. Nhiệm vụ công ty trong giai đoạn này là phát hiện ra những hàng hóa già cỗi và thông qua quyết định đối với từng mặt hàng hoặc là tiếp tục sản xuất, hoặc là “ thu hoạch thành quả”, hoặc là loại khỏi danh mục hàng hoá. Trong trường hợp cuối có thể bán hàng hoá đó cho công ty khác hay đơn giản là chấm dứt sản xuất.